Cơ quan có thẩm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để chỉnh lý khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do người khác giữ có phù hợp không, có buộc phải khởi kiện hành chính không ?

Câu hỏi 18: Theo hướng dẫn tại Mục II.2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TANDTC thì Toà án không tuyên hủy GCNQSDĐ đã cấp cho người nhận chuyển nhượng khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu mà chỉ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hủy GCNQSDĐ hoặc hủy phần đăng ký biến động nhưng cơ quan có thấm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để chỉnh lý khi GCNQSDĐ vẫn do người khác giữ dẫn đến việc đương sự phải khởi kiện thêm vụ án hành chính yêu cầu hủy GCNQSDĐ hoặc buộc thực hiện hành vi hành chính.

Trlời:

Hướng dẫn tại Mục II.2 Cộng văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 có nội dung như sau: “Khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyền quyển sự dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu nhưng người nhận chuyển quyển đã được cấp giáy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia t tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyền nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án”.

Điểm a khoản 3, các khoản 5, 6, 7 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

“3. Việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này mà không thuộc khoản 4 Điều này được thực hiện theo quy định sau đây: ..a). Trường hợp Tòa án có thấm quyền giải quyết tranh chấp đất đại có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo bản án, quyết định đó.

5. Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án về việc thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.

6. Trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này quyết định hủy giấy chứng nhận đã cấp.

7. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này thực hiện việc cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật sau khi thu hồi giấy chứng nhận đã cấp”

Như vậy, trường hợp Toà án không tuyên hủy GCNQSDĐ đã cấp cho người nhận chuyển nhượng khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu theo hướng dẫn tại Mục II.2 Công văn số 64/TANDTC-PC và trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có nội dung kiến nghị cơ quan có thầm quyền hủy GCNQSDĐ đã cấp cho người nhận chuyến nhượng hoặc hủy phần đăng ký biên động sang tên người nhận chuyền nhượng trong GCNQSDĐ thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho người nhận chuyển nhượng để chỉnh lý biến động hoặc cấp lại GCNQSDĐ theo các quy định tại điểm a khoản 3, các khoản 5 và 7 Điều 152 Luật Đất đai nêu trên. Trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đã cấp mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyết định hủy giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại khoản 6 Điều 152. Việc cơ quan có thẩm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để chinh lý khi GCNQSDĐ vẫn do người khác giữ là không đúng. Viện kiểm sát cần đối chiếu nội dung vụ việc với các quy định về việc thu hồi GCNQSDĐ tại Điều 152 Luật Đất đai để đề nghị, kiến nghị Toà án ghi rõ trong bản án, quyết định là huỷ GCNQSDĐ hay kiến nghị thu hồi GCNQSDĐ; kiến nghị cơ quan có thầm quyền trong trường hợp không thực hiện việc thu hồi để chỉnh lý biến động hoặc cấp lại GCNQSDĐ theo quyết định hoặc kiến nghị của Toà án.

Lưu ý: Nội dung bên trên được trích từ Công văn số 1476/VKTC-V9 về việc giải đáp vướng mắc về kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *